Chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh vẫn tiếp tục phản ảnh
nơi Phụng
Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XV Thường Niên Năm B, một sự sống
cứu độ được tóm gọn trong chính câu đáp ca của ngày hôm nay: "Lạy
Chúa, xin tỏ ḷng từ bi Chúa cho chúng con, và ban ơn cứu rỗi cho
chúng con".
Thật vậy, con người tạo vật
không thể nào có thể tự cứu độ ḿnh, như chủ trương "tự độ" của Phật
giáo, mà là một ân huệ từ trời cao, được gọi là "ơn cứu rỗi", một "ơn cứu rỗi" hoàn
toàn xuất phát bởi "ḷng từ bi" của Thiên Chúa, Đấng
ngay sau nguyên tội đă tự động hứa cứu rỗi con người (xem Khởi
Nguyên 3:15).
"Ơn cứu rỗi"
này, sau khi được Thiên Chúa hứa ban cho chung loài người sau nguyên
tội, Ngài c̣n bắt đầu thực hiện trong gịng lịch sử của nhân loại
nói chung và lịch sử cứu độ của dân
Do Thái nói riêng, bằng cách tuyển chọn họ như một gịng dơi đặc biệt để
từ đó xuất hiện một Đấng Thiên Sai Cứu Thế là Đức Giêsu
Kitô Con của Ngài.
Thế rồi, trong gịng lịch sử cứu độ của dân Do
Thái, Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất này đă liên tục tỏ ḿnh ra
cho họ bằng đủ mọi dấu kỳ sự lạ ngay trước mắt họ để giúp họ mỗi
ngày một tin vào Ngài hơn,
tin vào Vị Thiên Chúa thủy chung của họ, ở chỗ một khi đă
hứa là Ngài sẽ hoàn thành đúng như lời Ngài hứa, bất chấp bản chất
vừa mù quáng đầy yếu hèn lại cứng ḷng luôn bất
trung thất tín của họ với giao ước của Ngài, đến độ đă có 2
lần Ngài muốn ra tay tiêu diệt họ (xem Xuất Hành 32:10; Dân Số
14:12).
Ngài đă quả
thực "tỏ
ḷng từ bi"
với họ khi nhẫn nại với họ, bằng cách tiếp tục sai đến
với họ chẳng những các vị cứu tinh dân tộc như thời Quan Án, sau khi
họ đă vào Đất Hứa và trước thời Các Vua, mà c̣n cả các vị ngôn sứ
của Ngài để nhắc nhở họ về giao ước của Ngài, nhờ đó cảnh giác lối
sống bất xứng của họ và kêu gọi họ trở về với Ngài, và v́ thế các vị
ngôn sứ này thường trở thành nạn nhân bị dân chúng khủng bố tấn
công, như trường hợp của Tiên Tri Amos trong bài đọc
1 hôm nay, vị tiên tri bị xua đuổi v́ dám nói sự thật chống lại
Jeroboam là vua của Israel bấy giờ:
"Trong những ngày ấy, Amasia (vị tư tế ở Bethel thân cận với Vua Jeroboam -
biệt chú của người viết)
nói cùng Amos rằng: 'Hỡi tiên tri, người hăy trốn sang đất Giuđa,
sinh sống và nói tiên tri ở đó. Chớ tiếp tục nói tiên tri ở Bethel,
v́ đó là thánh điện của vua và là đền thờ của vương quốc'. Amos trả
lời cùng Amasia rằng: 'Tôi không phải là tiên tri, cũng không phải
là con của tiên tri, nhưng là đứa chăn ḅ chuyên đi hái sung. Khi
tôi đang đi theo đàn chiên, th́ Chúa dẫn tôi đi và nói cùng tôi
rằng: Ngươi hăy đi nói tiên tri cho dân Israel của Ta'".
Chính Chúa Giêsu, đang khi c̣n tại thế,
như bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, cũng đă từng "gọi mười
hai tông đồ và sai từng hai người đi". Ở Phúc Âm Thánh kư Mathêu
(10:1,5) khi sai các tông đồ đi th́ không nói là đi "từng hai
người"; Phúc Âm của Thánh kư Luca (9:1-2) cũng không nói đến sự kiện "từng
hai người" trong trường hợp các tông đồ được sai đi này,
mà chỉ trong trường hợp 72 môn đệ được
sai đi thôi (10:1), nên sau khi Chúa Kitô Phục Sinh mới xẩy ra sự kiện 2
môn đệ cùng nhau đi về làng Emmau được vị Thánh kư này thuật
lại (xem Luca 24:13).
Sở dĩ "các ông
ra đi rao giảng sự thống hối. Các ông trừ nhiều quỷ, xức dầu chữa
lành nhiều bệnh nhân", như câu kết của bài Phúc Âm thuật lại cho thấy,
nghĩa là hoàn thành một cách rất tốt đẹp, là v́ những lư do
sau đây:
1- Thành phần
tông đồ thừa sai này đă được "Người ban cho các
ông có quyền trên các thần ô uế", một thứ quyền chỉ có Con Thiên Chúa mới có và
trao ban: "Con Thiên Chúa tỏ ḿnh ra là để hủy diệt các công việc
của ma quỉ" (1Gioan 3:8) - các vị tông đồ thừa sai thi hành
quyền trừ quỉ này là dấu cho thấy "Vương quốc của Thiên Chúa đă
gần đến" (Mathêu 10:7) rồi vậy;
2- Các vị ra đi với một tấm ḷng hoàn toàn tin tưởng vào
thần linh hơn là vào những phương tiện vật chất: "đi đường, không mang ǵ, ngoài cây gậy ("cây
gậy" ở đây dường như ám chỉ đến quyền chủ chiên chăn dắt sau này của
các tông đồ và của các vị thừa kế trong vai tṛ giáo hoàng và giám
mục - suy diễn của người viết), không mang bị mang bánh, không mang tiền trong túi,
nhưng chân đi dép (chứ
không đi chân đất, cho dù bên Phúc Âm của Thánh kư Mathêu th́ klhông đi dép, nhưng theo chi tiết đi
dép ở Phúc Âm Thánh Marcô ở đây dường như ám chỉ đến tinh thần siêu
thoát của thành phần thừa sai truyền giáo hoàn toàn không dính bén
một sự ǵ trên thế gian này, cho dù là bụi đất chăng nữa, là những
ǵ nếu cần th́ phủi bụi bỏ lại - suy diễn của người viết), và đừng mặc hai áo";
3- Các vị chấp nhận tất cả những ǵ xẩy ra cho các vị, dù
bất lợi, bởi thành công hay thất bại của các vị là ở chỗ các vị có
chu toàn sứ vụ của ḿnh đúng với ư muốn của Đấng đă sai các vị hay
chăng, chứ không phải là chỗ các vị được thế gian khen hay chê,
do đó các vị vẫn b́nh an trong Chúa, không chịu trách
nhiệm về những ai không chấp nhận các vị, mà hoàn toàn để Đấng đă
sai các vị đi xét xử họ: "Đến đâu, các con vào nhà nào, th́ ở lại
đó cho đến khi ra đi. Ai không đón tiếp các con, cũng không nghe lời
các con, th́ hăy ra khỏi đó, phủi bụi chân để làm chứng tố cáo họ".
Trước "ḷng từ bi Chúa" được liên lỉ tỏ
ra qua lịch sử cứu độ của dân Do Thái trong Cựu Ước, nhất là nơi Đức
Giêsu Kitô "vào thời điểm viên trọn" (Galata 4:4), hay "trong thời gian viên măn" được nhắc đến trong
bài đọc 2 hôm nay, Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô,
cũng ở trong bài đọc 2, đă không thể nào cầm ḿnh mà không than lên
với Kitô hữu giáo đoàn Êphêsô những cảm nhận thần
linh đầy đức tin và ḷng mến yêu tri ân cảm tạ sâu xa của ngài như sau:
"Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu
Kitô, Chúa chúng ta, Đấng đă chúc lành cho chúng ta bằng mọi phúc
lành thiêng liêng trên trời, trong Đức Kitô. Như Ngài đă chọn chúng
ta trong Người trước khi tạo dựng thế gian, để chúng ta được nên
thánh thiện và tinh tuyền trước mặt Ngài trong t́nh yêu thương. Chiếu theo thánh ư Ngài,
Ngài đă tiền định cho chúng ta được phúc làm con nhờ Đức Giêsu Kitô, để chúng ta
ca tụng vinh quang ân sủng của Ngài mà Ngài đă ban cho chúng ta được
ơn cứu chuộc nhờ máu Người, được ơn tha tội theo sự phong phú của ân
sủng Ngài. Ân sủng này, Ngài đă đổ tràn đầy trên chúng ta với tất cả
sự khôn ngoan thượng trí, khiến chúng ta được biết mầu nhiệm ư định
của Ngài, theo ư Ngài đă định về Người, để kiện toàn trong thời gian
viên măn, là thâu hồi vạn vật trên trời dưới đất trong Đức Kitô".
Bài đáp ca hôm nay đă cho thấy những
ǵ đă được chất chứa trong Phụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật XV thế
này:
1- "Tôi sẽ
nghe Chúa là Thiên Chúa của tôi phán bảo điều chi? Chắc hẳn Người sẽ
phán bảo về sự b́nh an. Vâng, ơn cứu độ Chúa gần đến cho những ai
tôn sợ Chúa, để vinh quang Chúa ngự trị trong đất nước chúng tôi": nghĩa là lúc nào Chúa cũng muốn
cứu độ con người: "ơn
cứu độ Chúa gần đến", muốn con người được b́nh an vui sống: "Người
sẽ phán bảo về sự b́nh an",
chỉ cần con người tỏ ḷng "tôn sợ" Ngài th́ sẽ được thấy "vinh quang
của Chúa".
2- "Ḷng
nhân hậu và trung thành gặp gỡ nhau, đức công minh và sự b́nh an hôn
nhau âu yếm. Tự mặt đất, đức trung thành sẽ nở ra, và đức công minh
tự trời nh́n xuống": Đúng thế, "ơn cứu rỗi" xuất phát từ "ḷng
nhân hậu" và từ "đức công minh" của Thiên Chúa như "từ
trời nh́n xuống",
nhưng
phải được "ḷng trung thành" của
con người như "từ mặt đất" đón nhận và đáp ứng,
nhờ đó mới xẩy ra một
cuộc "gặp
gỡ nhau"
và "hôn nhau âu yếm".
3-
"Vâng, Chúa sẽ ban cho mọi điều thiện hảo, và đất nước chúng tôi
sẽ sinh bông trái, đức công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn
cứu độ theo sau lốt bước của Người": Phải, chính v́ Thiên Chúa
là Đấng "công minh" đầy từ bi thương xót, Đấng thấu suốt được
tất cả bản chất yếu hèn và tội lỗi của con người, thành phần tạo
vật không thể nào tự cứu được ḿnh, mà Ngài đă tỏ ḿnh ra cho họ
bằng việc ra tay ban "ơn cứu độ" cho họ: "đức
công minh sẽ đi trước thiên nhan Chúa, và ơn cứu độ theo sau lốt
bước của Người".